Thị trường lao động nước ta hiện tại không thiếu nếu xét về định lượng tổng thể. Song khan hiếm lao động xảy ra tại nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất hiện nay lại chính là hệ quả của một thời kỳ dài ai cũng nghĩ vì dư thừa lao động.
Đừng nghĩ lao động rẻ
Khi xây dựng các khu công nghiệp - khu chế xuất, nhiều chính quyền địa phương biết rõ lao động tại địa phương không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng như quy hoạch. Nhưng bản thân các địa phương lại không có sự chuẩn bị về nguồn lao động, không có mối liên hệ với thị trường lao động. Bản chất thị trường lao động lại không giống thị trường hàng hóa, chỉ cần mang hàng đến bán rồi xong. Người lao động từ nơi khác đến làm việc không được đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, lao động, tiền lương thấp... sẽ quay lưng lại.
Khi tổng số tiền chi cho sự dịch chuyển lớn hơn số tiền chi ra để có một công việc ở quê thì người lao động sẽ không dịch chuyển nữa. Tiền lương và thu nhập ở hai nơi lại chênh lệch nhau không nhiều nên không đủ sức hút để lao động phải ly hương. Bản thân người lao động cũng tự cân đối các khoản chi này và tự họ sẽ quyết định có đi hay không.
Hiện tại, những dòng dịch chuyển lao động ở nước ta hoàn toàn do tự phát. Vì đói nghèo, thiếu việc làm nên lao động ly hương để tìm việc. Nhưng sau một thời gian làm việc vất vả, số tiền họ dành dụm được không đáng bao nhiêu, điều kiện ăn ở sinh hoạt không tốt, đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn... họ đã phải tự so sánh và không dịch chuyển nữa.
Ở đây có lý do từ cả lực đẩy là chính sách di dân không tốt và cả lực hút không đủ mạnh từ các địa phương khan hiếm lao động, các doanh nghiệp tuyển dụng nên các dòng dịch chuyển này mới chậm lại như vậy.
Doanh nghiệp, các nhà quản lý, đầu tư cơ sở hạ tầng đều nghĩ nhân lực nước ta rẻ, dễ thu hút. Nhưng thực tế vấn đề lao động không dễ giải quyết vì còn liên quan tới nơi sống, nơi làm việc... Nó không giống như là chuẩn bị vốn hay xây một con đường.
Và đừng quên yếu tố thị trường
Việc thiếu hụt lao động chỉ có thể xảy ra trong khoảng chục năm tới, vì dân số nước ta đang già đi, số người tham gia thị trường lao động giảm. Hiện tại, cải thiện những vấn đề như điều kiện sinh hoạt, làm việc, đời sống văn hóa tinh thần, tiền lương... vẫn có thể bứt số lao động nông nghiệp vào các khu vực công nghiệp, dịch vụ.
Với những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp đã có kế hoạch giữ chân nhân tài... Tuy thế, không ít doanh nghiệp vẫn nghĩ thị trường đang dư thừa nên không cần phải đầu tư nhiều cho nguồn nhân lực. Đây là một quan điểm sai lầm.
Đã qua rồi cái thời doanh nghiệp quơ tay phải, quơ tay trái cũng có được lao động. Người lao động sẽ rời bỏ doanh nghiệp khi doanh nghiệp cư xử không tốt với họ. Doanh nghiệp cần phải dựa trên thị trường, từ vấn đề lương, giá cả sinh hoạt, quan tâm tới đời sống của người lao động thì họ mới gắn bó lâu dài.
Chính phủ chỉ quy định lương tối thiểu để bảo vệ lao động yếu thế không bị trả lương tới mức không đủ sống. Còn lại, thu nhập của người lao động phụ thuộc vào thỏa thuận giữa chủ sử dụng và lao động. Nhưng do một thời gian dài cung lao động dư thừa nên nhiều doanh nghiệp bám vào lương tối thiểu để trả công cho người lao động.
Trong thời điểm này, khi đang khan hiếm như vậy mà nhiều doanh nghiệp vẫn giữ tư duy trả mức lương đó là không hợp lý. Thị trường khan hiếm thì tiền công sẽ được đẩy lên. Doanh nghiệp phải xem tới yếu tố thị trường này, đừng ngồi đó kêu là tôi tuân thủ các chính sách đảm bảo lương tối thiểu mà vì sao vẫn không có lao động.
Trong chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011-2020 mà Viện Khoa học lao động và xã hội đang xây dựng có đưa ra vấn đề hỗ trợ lao động dịch chuyển bằng tiền để giảm chi phí cơ hội. Tuy nhiên về lâu dài vẫn phải là các chính sách đào tạo để giúp người lao động tự kết nối với các cơ hội việc làm tốt hơn. Các chương trình đào tạo và các giải pháp của Chính phủ hiện nay về lao động hầu hết mang tính lâu dài. Giải pháp trước mắt vẫn phải là chiến lược nhân sự của từng doanh nghiệp.
M.KHÁNH - H.VĂN ghi (Tuổi Trẻ Online)
Những năm trước đây, cứ sau tết lao động Quảng Nam ly hương rất đông nhưng gần đây đã giảm dần. Năm 2000 có gần 45.000 lao động Quảng Nam ly hương, trong đó phần lớn vào các tỉnh phía Nam tìm việc, nay thì khoảng 20.000 lao động đã trở về quê làm việc. Người lao động đã có nhiều cơ hội việc làm hơn, họ so sánh, tính toán thu nhập, môi trường làm việc, chi phí... rất kỹ và nhiều người quyết định ở lại quê làm việc.
Trước đây ở Quảng Nam, những lao động rời nghề nông tìm được việc làm ổn định ở quê nhà rất khó khăn. Nay có thể khẳng định rằng vấn đề đầu tiên và quyết định thu hút, giữ chân lao động Quảng Nam khỏi ly hương chính là nhiều doanh nghiệp đầu tư mở xí nghiệp, nhà máy ở khắp địa bàn và trong sáu khu công nghiệp, 18 cụm công nghiệp. Từ đó nhu cầu lao động tăng, các ngành nghề phong phú, tạo việc làm cho nhiều đối tượng.
Chúng tôi nắm được lượng lao động ly hương lớn về quê ăn tết mỗi năm nên cứ sau tết, Sở LĐ-TB&XH tỉnh mở ngay hàng chục phiên chợ việc làm ở các vùng có nhiều lao động ly hương. Ở đó, các doanh nghiệp rao tuyển hàng vạn lao động, còn người lao động tiếp cận được những thông tin thiết thân, cụ thể về lương, thưởng, chế độ chính sách, môi trường lao động, sinh hoạt... Cung cầu lao động gặp nhau nên họ quyết định ở lại rất dễ dàng.
Năm nay, nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp lên đến 15.000 lao động, các địa chỉ, ngành nghề, lĩnh vực, mức lương thưởng... của các doanh nghiệp này được thông báo rộng rãi về các miền quê, tận các xã, thôn. Doanh nghiệp ở Quảng Nam hiện có cải thiện về tiền lương, mức thưởng cộng với môi trường làm việc hợp lý.
Đồng thời các điều kiện về y tế, trường học, cơ sở hạ tầng ở Quảng Nam đã được đầu tư, chất lượng sống được nâng cao, giá cả sinh hoạt không đắt đỏ nên phù hợp với nhiều gia đình người lao động. Đáng nói là lao động từ các tỉnh phía Nam về quê lại có nhiều cơ hội việc làm hơn do họ có tay nghề sẵn, ý thức tổ chức lao động công nghiệp tốt nên nhiều doanh nghiệp ưng ý hơn.
Ông VÕ DUY THÔNG (phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Nam)